Tiếng Việt - Luyện dạng thường gặp ĐGNL HCM (V-ACT)
(ĐỀ 6 - LUYỆN DẠNG TIẾNG VIỆT THƯỜNG GẶP)
Đề thi thử
Câu 1:

Thập tải trần ai ám ngọc trừ,

Bách niên thành phủ bán hoang khư.

Yêu ma trùng điểu cao phi tận,

Chỉ uế càn khôn huyết chiến dư.

Tang tử binh tiền thiên lý lệ,

Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư.

Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ,

Bách chủng u hoài vị nhất sư.

Dịch nghĩa:

Cái bụi che mờ thềm ngọc mười năm nay.

Thành phủ xây dựng trăm năm trước, một nửa thành gò hoang,

Các loài chim nhỏ bé đều bay lên cao hết.

Sau các cuộc huyết chiến, cõi càn khôn trở nên nhơ nhớp.

Quê nhà trong cơn binh lửa hẳn đã tiêu điều,

Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt.

Bạn bè, bà con chỉ còn lại mấy hàng thư dưới đèn.

Đêm thu vắng, cá rồng lặng lẽ, trăm mối u hoài chưa dẹp được chút nào!

(Bát muộn - Nguyễn Du)

Bức tranh không gian và tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ là sự phản chiếu sắc nét nhất của bi kịch thời đại nào dưới đây?

Câu 2:

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,

Phong vận kỳ oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Dịch nghĩa:

Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,

Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi.

Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết,

Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên lụy, đốt đi còn sót lại một vài bài.

Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời,

Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng.

Chẳng biết ba trăm năm sau nữa,

Thiên hạ có ai khóc Tố Như ta?

(Độc Tiểu Thanh ký - Nguyễn Du)

Hai câu thơ kết bộc lộ tư tưởng triết mỹ sâu sắc nào của tác giả về thân phận người nghệ sĩ trong xã hội phong kiến?

Câu 3:

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,

Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,

Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Hàn y xứ xứ thôi đao xích,

Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dịch nghĩa:

Trong rừng phong, móc ngọc tơi bời,

Nơi núi Vu và kẽm Vu, khí ảm đạm hiu hắt.

Dưới lòng sông, sóng và trời cùng dâng trào,

Ngoài ải, gió và mây tiếp nối với đất che mờ mịt.

Khóm cúc dày đã hai lần nở chảy ra dòng lệ ngày trước,

Con thuyền lẻ loi vẫn buộc chặt nỗi lòng nhớ quê nhà.

Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét,

Thành cao Bạch Đế tiếng chày đập áo lúc chiều tối dồn dập.

(Thu hứng kỳ 1 - Đỗ Phủ)

Hai câu luận Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ / Cô chu nhất hệ cố viên tâm sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào để khắc họa chiều sâu tâm lý của nhân vật trữ tình?

Câu 4:

Canh Dần thanh minh

Tích vũ liên triêu kim thuỷ tình,

Bất tri thử nhật thị thanh minh.

Âm vân đạm đạm vị toàn tán,

Kiêu mộc hân hân sơ hướng vinh.

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,

Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.

Bắc song hứa cửu thê lương thậm,

Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Dịch nghĩa:

Mấy hôm mưa liền nay mới tạnh

Nào biết đã là ngày thanh minh rồi

Mây đen vẫn còn vẩn vơ chưa tan hết

Cây cao đã mơn mởn bắt đầu xanh tốt

Người đi qua Y Xuyên thấy đám tế ngoài đồng mà buồn rầu

Khách từ Đông Lạc nghe tiếng chuông kêu mà cảm việc núi đồng đổ

Bấy lâu nay ở trước cửa phía bắc thấy buồn bã tệ

Nhấm bút đề thơ ngậm chén uống rượu nhưng lòng vẫn chưa nguôi

(Canh Dần thanh minh - Nguyễn Khuyến)

Hai câu thơ kết đoạn bộc lộ nghịch lý xót xa nào trong chiều sâu tâm giới của nhân vật trữ tình trước bức tranh thời đại?

Câu 5:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu)

Dịch nghĩa:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,

Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.

Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,

Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.

Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,

Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.

Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

Sự tương phản nghệ thuật trong bốn câu thơ đầu bài thơ Hoàng Hạc lâu nhằm triết lý hóa bi kịch nào của nhân sinh?

Câu 6:

Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.

(Mộ xuân tức sự - Nguyễn Trãi)

Dịch nghĩa:

Nhàn rỗi suốt ngày đóng cửa phòng sách,

Ngoài cửa vắng khách tục đến.

Trong tiếng đỗ vũ kêu ý chừng xuân đã muộn,

Cả một sân hoa xoan nở dưới mưa phùn.

Bức tranh thiên nhiên và tư thế của con người trong bài thơ bộc lộ chiều sâu tâm thức nào của nhân vật trữ tình?

Câu 7:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Mấy lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn. Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà.

Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông, tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên “đá” bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá.

Riêng tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôn còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tầu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh làm ngứa mắt anh. Anh hằn học gi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại… Nhưng sao gặp tôi lần này anh lại hân hoan đến thế? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng? Hay cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân ta đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn sót lại?

(Đôi mắt, Nam Cao)

Đoạn trích sử dụng thủ pháp trần thuật nội tâm để bóc trần bản chất nào trong thế giới quan và hệ giá trị tư tưởng của nhân vật Hoàng?

Câu 8:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Nàng Bân là con gái của Ngọc Hoàng nhưng khác với nhiều chị em của mình, nàng Bân chậm chạp và có phần vụng về. Tuy nhiên, nàng Bân vẫn được cha mẹ yêu chiều. Ngọc Hoàng và Hoàng Hậu thương con thua em kém chị nhưng không biết làm cách nào, mới bàn nhau lấy chồng cho nàng để nàng biết thêm công việc nội trợ trong gia đình. Chồng nàng Bân, cũng là một người trên thế giới nhà trời.

Nàng yêu chồng lắm. Thấy mùa rét đã đến, nàng định tâm may cho chồng một cái áo ngự hàn. Những nàng vụng về quá, khi bắt đầu rét, nàng Bân đã bắt đầu công việc song cứ loay hoay mãi, tìm được cái nọ thì thiếu cái kia, xe được chỉ thì chưa có kim, đưa sợi vào dệt thì thoi, suốt lại hỏng. Đến nỗi trời đã sắp sang xuân rồi mà chỉ mới may trọn được đôi cổ tay. Nhiều người trên trời đã chế giễu nàng:

"Nàng Bân may áo cho chồng

May ba tháng ròng mới trọn cổ tay".

Nhưng nàng Bân vẫn không nản chí. Nàng may mãi qua tháng Giêng rồi hết tháng Hai, cho tới khi áo may xong thì vừa lúc trời hết rét. Nàng Bân buồn lắm. Thấy con âu sầu, Ngọc Hoàng gạn hỏi. Khi biết chuyện Ngọc Hoàng cảm động bèn làm cho trời rét lại mấy hôm để chồng nàng mặc thử áo. Từ đó thành lệ, hàng năm vào khoảng tháng Ba tuy mùa rét đã qua, mùa nóng đã tới nhưng có lúc tự nhiên rét lại mấy hôm, người ta gọi cái rét đó là rét nàng Bân. Tục ngữ có câu: “Tháng Giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng Ba rét nàng Bân” là vì thế.

(Rét nàng Bân)

Chi tiết thời gian nàng Bân “may mãi, qua tháng Giêng, hết tháng Hai mới xong” thực hiện chức năng nghệ thuật cốt lõi nào?

Câu 9:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

"Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.

Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai."

(Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn)

Cấu trúc tương phản vĩ mô trong đoạn trích được tác giả vận dụng nhằm mục đích công kích trực diện vào hệ lụy nào của giới tướng lĩnh?

Câu 10:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Khi Uy-lít-xơ từ phòng tắm bước ra, trông người đẹp như một vị thần. Người lại trở về chỗ cũ, ngồi đối diện với Pê-nê-lốp, trên chiếc ghế bành ban nãy, rồi nói với nàng:

Khốn khổ! Hẳn là các thần trên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối, vì một người khác chắc chắn không bao giờ có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới được trở về xứ sở. Thôi, già ơi! Già hãy kê cho tôi một chiếc giường để tôi ngủ một mình, như bấy lâu nay, vì trái tim trong ngực nàng kia là sắt.

Pê-nê-lốp thận trọng đáp:

Khốn khổ! Tôi không coi thường, coi khinh ngài, cũng không ngạc nhiên đến rối trí đâu. Tôi biết rất rõ ngài như thế nào khi ngài từ giã I-tác ra đi trên một chiếc thuyền có mái chèo dài. Vậy thì, Ơ-ri-clê ! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây lên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường.

Nàng nói vậy để thử chồng, nhưng Uy-lít-xơ bỗng giật mình nói với người vợ thận trọng:

Nàng ơi, nàng vừa nói một điều làm cho tôi chột dạ. Ai đã xê dịch giường tôi đi chỗ khác vậy? Nếu không có thần giúp đỡ thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này. Nếu thần linh muốn xê dịch đi thì dễ thôi, nhưng người trần dù đang sức thanh niên cũng khó lòng lay chuyển được nó. Đây là một chiếc giường kì lạ, kiến trúc có điểm rất đặc biệt, do chính tay tôi làm lấy chứ chẳng phải ai […]

(Uy-lít-xơ trở về, Hô-me-rơ)

Chi tiết Pê-nê-lốp cố ý sai nhũ mẫu Ơ-ri-clê “khiêng chiếc giường… ra khỏi gian phòng” để thử phản ứng của Uy-lít-xơ trong đoạn trích trên khắc họa sâu sắc đặc điểm tính cách nào của nhân vật?

Câu 11:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Buổi sáng Tứ qua chỗ ông đứng bên giường nhìn ông rồi hỏi ông ăn gì không? Ông lắc đầu xua tay bảo nó đi rồi quay mặt vào trong. Cái thằng lầm lì thế mà tình cảm. Ông chỉ lơ mơ thấy khuôn mặt thằng Vị ở đâu đó rồi ông thiếp đi. Ông thiếp đi thời gian bao lâu không biết vì vợ chồng Thụy đi cả ngày Tứ cũng không thấy sang. Trong giấc mơ ông thấy Vị thật. Đứa con nuôi ông yêu như giọt máu thật sự giá như phải xẻ thịt cho nó sống ông cũng ừ. Vị đứng tần ngần bên giường bố. Nó vẫn như ông nhớ người mảnh lông mày thưa môi mỏng tai mỏng. Ông thều thào: Bao giờ mày về hả con?

Ông tỉnh lại đi! Thằng Vị đây chứ không mơ đâu!

Hình như có sự giằng co sự lôi kéo ở ngay cạnh giường ông. Thằng Vị nói the thé. Ông thương nó nhưng không thương nổi cái giọng như bị bỏ thủy tinh vụn vào nghe the thé kiểu đàn ông có vấn đề về của quý. Vị giằng tay thằng Thụy thằng Tứ. Bây giờ ông Bản tỉnh hẳn. Nhìn thấy hẳn hoi. Vị hét: Thì tôi về đây rồi còn gì các ông cứ làm như tôi chạy lên trời ấy. Thả ra!

Thụy hầm hầm. Ông cứ ca bài ca con cái mãi đi. Thằng Tứ nhà tôi nó phát hiện con ông mấy lần lượn lờ quanh nhà mà ông cứ bảo bên Đức. Nó về từ thời tám hoánh sống với con phò già ở dưới tỉnh H. Buôn bán phát đạt.

Ông Bản không tin. Ông nhổm dậy xem mình có mơ không. Ông nắm lấy tay thằng Tứ lúc đó đứng gần. Tay nó gân guốc cứng như sắt nguội. Có lần Thụy bảo Tứ là thợ sửa xe máy. Ông biết là mình không mơ. Tiếng ông lào phào từ sau hai cái răng cửa rụng: Sao lại thế hả con?

Thụy đi lại to lớn trông rất dữ vừa hầm hừ vai gồ lên càng giống con gấu. Thụy lạc giọng bảo nó không nói đâu nói ra sợ cứng lưỡi vì đê tiện thế ai mà tin được. Nó chỉ nói với thằng Tứ vì thằng Tứ bóp cổ nó. Thằng Tứ rình mãi mới biết nó ở đâu ông ạ.

Sao lại thế hả con?

  • Nó về vì miếng đất của ông thấy ông ốm yếu nó sợ phải săn sóc ông nó lượn quanh nhà gửi tiền ông tiêu vặt nhưng nó chờ ông chết ma chay xong nó mới ra mặt. Đấy. Đơn giản thế thôi. Có đứa nào nó thích đổ bô, nhà ông nhà cũ ngày xưa đi ỉa nhà xí tập thể bây giờ ông đào lỗ sau bếp vì nhà xí công xóa rồi nó phải đổ bô là cái chắc. Rồi nay viện này mai viện kia. Nó trốn tỉnh khác nó khôn hơn loài chuột. Nó chờ “vô cùng thương tiếc” ông xong nó xuất hiện. Nó làm nhà nó mua ô tô nó mở nhà hàng ngoài phố. Đời nó lên tiên. Ông làm gì được nó!

Ông Bản há hốc cái miệng đen ngòm vì mất răng cửa mắt quắc lên nhìn thằng Vị một lát rồi, lần đầu tiên trong cuộc đời nhẫn nhịn hiền lành ông quát lên:

  • Cút ngay!

Anh em Thụy từ căn nhà năm tầng của mình đi ra. Kéo xe máy xong Thụy nhìn sang căn nhà cấp bốn duy nhất trong ngõ chưa lên tầng. Ông Bản ngồi ngoài cửa. Mùi ẩm mốc trong nhà đã bớt đi vì Tứ bắt thằng Vị trần ra một ngày cùng với thợ trát, trét, quét lau, mở cửa sổ sửa nhà vệ sinh cho bố. Tứ cao lớn hơn thằng Vị, có thế hơn vì cả ngõ xóm này là nhà của Tứ từ nhỏ. Tứ lầm lì nói rít qua kẽ răng: Mày thu dọn đồ đạc xong thì về đây ngay. Nếu mày chậm bọn tao sẽ gọi người mua nửa đất làm nhà cho ông một nửa. Một nửa đó là tiền đưa cho mày, còn nửa làm nhà sau này ông “thăng” thì gửi về quê. Bà mất rồi nhưng còn hàng xóm họ hàng một đồng họ cũng quý. Cho mày suy nghĩ? Báo công an phường rồi. Nghĩ đi.

Thằng Vị cúp đuôi đi không dám nói lại nửa lời.

Ông Bản nhìn anh em Thụy, gật đầu chào họ. Ông sảng khoái ra vì nhà cửa sạch sẽ vì thằng Vị sẽ về nay mai. Thôi thì… nó vẫn là con. Làm sao chối bỏ được. Có những thằng như nó nhưng lại có những thằng như Thụy như Tứ…

Có thế người ta mới sống được.

(Ngày còn dài Truyện ngắn của Lê Minh Khuê)

Lời bình ngoại đề “Có thế người ta mới sống được” khép lại đoạn trích đã bộc lộ quan niệm nhân sinh vĩ mô nào của tác giả khi soi chiếu vào hiện thực đời sống nhân vật?

Câu 12:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Nuôi tằm phải làm một phòng riêng hoặc phải làm riêng một cái nhà. Nền nhà phải cao cho khỏi ẩm thấp. Nhà phải kín và bốn mặt đều phải có cửa, thường thường phải mở cửa cho thông khí. Trời nóng phải mở cho mát, trời rét phải đóng cho ấm.

Phải giữ gìn đừng cho ruồi nhặng đậu vào con tằm. Nếu để ruồi nhặng đậu vào thì sinh ra bọ mà hại kén về sau. Lại phải giữ chuột vì chuột hay ăn tằm lắm.

Nuôi tằm kiêng nhất là hơi người chết. Nếu phạm phải hơi ấy thì tằm rã nước mồm ra, ăn kém, không kéo được ra tơ mà làm thành kén nữa.

Lại kỵ nhất là gió tây. Hễ mùa bức động có gió tây thì tằm chết nhiều, nên phải che kín chiều gió ấy mà mở cửa khác cho mát.

Lại thường phải xem xét tằm tốt hay xấu, nếu con nào xấu thì nhặt bỏ đi, hoặc xấu cả nong thì đổ cả đi, kẻo nuôi tằm xấu hại lá dâu mà không ích gì, lại uổng công nữa.

Khi tằm chín bắt lên né phải đem phơi qua nắng để nó làm tổ cho chóng.

Thành kén rồi, trong ba ngày phải ươm ngay. Nếu muốn để lâu thì phải sấy kén cho con nhộng ở trong quả kén chết đi, kẻo để nó già thành ngài cắn quả kén thì hỏng cả tơ.

Nhà nuôi tằm thường người già trẻ đều vất vả. Nào người hái dâu, nào người thái lá, nào người săn sóc chăn nuôi. Nhất là khi tằm ăn rỗi lại càng phải chăm chỉ lắm.

Nuôi tằm cũng nhiều lợi lắm. Ai được luôn dăm lứa tằm có thể làm giàu ngay được. Nhưng, không khéo mà để hỏng vài lứa thì cũng thiệt hại nhiều.

Còn như cách ươm tơ của ta khi trước thì cũng còn vụng nhiều, làm cho tơ nhiều đầu mối mà không được thành sợi. Từ khi có trường canh nông dạy ươm theo cách cẩn thận thì tơ đã tốt hơn khi trước.

Cách ươm:

1.— Người đàn bà ươm tơ phải xem nước trong nồi ươm nóng vừa độ, để cho sợi tơ kéo khỏi đứt.

2.— Bỏ kén vào nồi ươm phải bỏ từng ít một, lấy đũa nhào đi nhào lại để lấy sợi gốc ra cho được thanh và đều nhau thì bán càng được nhiều tiền.

3.— Khi lấy gần hết gốc thì bỏ đũa ra mà kéo bằng tay cho đến khi ra hẳn sợi tơ. Đừng kéo lấy gốc nhiều quá mà hao tơ.

4.— Kén phải bỏ vào nồi cho đều, đừng có khi nhiều khi ít. Mỗi bàn ươm thì ươm hai mối. Muốn cho tơ dễ kéo và dễ bán thì cho bảy con kén làm một sợi.

Những người ươm tơ phải có ý tứ giữ mực, lúc nào cũng bảy con kén, ngộ có sợi nào đứt thì phải nối ngay, mà khi có nhiều con kén hết một lúc, cho kén mới vào thay thì để tám con mà thôi chớ nên cho nhiều quá.

5.— Cái cần để bắt chéo mối tơ lại thì phải cho dài thì tơ mới tròn mà săn sợi, tơ có chỗ đầu mấu nào thì khi đi qua chỗ bắt chéo ấy phải đứt ngay, mà mình dễ trông thấy để nhặt nó đi.

Còn người quay tơ thì thường thường dùng trẻ con quay cũng được, quí hồ quay cho đều, mà quay mau hay chậm thì tùy người ươm bảo. Lúc nào sợi tơ đứt ra thì người quay tơ phải tìm mối đứt ở các gàng để cho người ươm quấn mối ấy lên cần mà nối lại cho liền, đừng để thừa mối ra.

Mỗi lúc bỏ kén vào quay để lấy gốc ra thì phải dùng lò ươm cho đều lửa.

Khi nào con tơ đã to độ 40, 50 grammes thì đầu mối phải quấn vào, buộc lại cho dễ tìm rồi đem nguyên cái gàng phơi ra chỗ có gió mà không có bụi cho được chóng khô và sạch sẽ. Khô rồi tháo ra mà để vào chỗ kín đừng để cho ẩm ướt.

Nghề nuôi tằm và nghề làm ruộng đều là nghề nghiệp căn bản rất hệ trọng cho việc sinh nhai và lại rất khó nhọc hơn cả mọi nghề, nước nào thì cũng phải trọng hai nghề ấy làm cốt.

(Nghề nuôi tằm, Phan Kế Bính)

Cấu trúc logic của đoạn trích vận động từ bình diện vi mô của kỹ thuật thủ công đến việc xác lập hệ giá trị vĩ mô nào trong tư tưởng xã hội truyền thống?

Câu 13:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Cáo tật thị chúng - Mãn Giác thiền sư)

Dịch nghĩa:

Xuân đi, trăm hoa rụng,

Xuân đến, trăm hoa nở.

Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,

Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.

Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,

Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

Hình tượng cành mai trong hai câu thơ cuối mang ý nghĩa biểu tượng triết lý cốt lõi nào của Phật giáo thiền tông?

Câu 14:

Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,

Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;

Mộc sắt tung hoành như thản khắc,

Văn trùng tụ tán tự phi ky;

Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ,

Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;

Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,

Lão phu hoà lệ tả tù thi.

(Thu dạ - Hồ Chí Minh)

Dịch nghĩa:

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trăng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tăng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một năm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Nghệ thuật xây dựng hình ảnh ở hai câu thực Mộc sắt tung hoành như thản khắc / Văn trùng tụ tán tự phi ky thể hiện nét đặc sắc nào trong tư duy thơ của Bác?

Câu 15:

Ký ngôn toàn thịnh hồng nho tử,

Đồ long dục tựu học hà vi.

Mút ngòi viết mà hỏi cùng vũ trụ,

Những nghĩa, những văn, những thi, những phú,

Những trường thiên đoản cú, tán tự, bi, minh.

Nếp bồng trông mòn mỏi bấy công trình,

Nền khoa cử lấy hiển vinh mày mặt.

Đậm lạt cấp phần vua đôi nét,

Rồi công danh phú quý dập dìu theo.

Này xe, này ngựa, này võng, này hèo,

Này áo gấm xiêm thêu, này đai vàng thẻ bạc.

Buông hơi sấm giữa cõi trần rơm rác,

Tréo mẩy lên xưng ông nọ ông kia.

Ố ai ơi! Tốt lột chưa tề,

Nên sự nghiệp cũng nhờ ba chữ đó.

Tò mò hỏi, năm châu ai lớn nhỏ,

Ủa việc ngoại dương tau có biết mô na!

Cũng tai cũng mắt cũng người ta.

(Cái văn chương - Huỳnh Thúc Kháng)

Bút pháp trào phúng trong đoạn thơ trên được sử dụng nhằm mục đích đả kích trực diện vào hiện tượng xã hội nào buổi giao thời?

Facebook
Click để gọi ngay cho tôi - messenger Click để gọi ngay cho tôi - zalo